Skip Ribbon Commands
Skip to main content


Hội nghị trực tuyến toàn quốc Tổng kết Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020, xây dựng Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030

Ngày 18/3/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến Tổng kết 10 năm Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020, xây dựng Chương trình CCHC giai đoạn 2021-2030, cùng dự Hội nghị có Phó thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình Trưởng Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ, các thành viên Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ và đại diện các cơ quan, ban ngành liên quan cùng Lãnh đạo UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương và lãnh đạo các Sở, ban ngành...

10 SỰ KIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NỔI BẬT NĂM 2020

1. Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật tiếp tục có bước chuyển biến rõ rệt Các bộ, ngành, địa phương đã tập trung nguồn lực tham mưu cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XII và các Hội nghị Trung ương 4, 5, 6, 7 khóa XII về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật có nhiều kết quả tích cực: Trong năm 2020, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật đã phối hợp với các bộ, cơ quan, rà soát 8.779 văn bản ; qua đó, đã phát hiện và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không phù hợp thực tiễn, trong đó tập trung vào 10 lĩnh vực có tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh: (1) Quy định về điều kiện gia nhập thị trường, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp; (2) Quy định về phê duyệt, triển khai, tổ chức thực hiện, chấm dứt dự án đầu tư; quy định về tài chính, thuế; (3) Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; (4) Quy định về đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng và kinh doanh bất động sản; (5) Quy định pháp luật về lao động, việc làm và an sinh xã hội; (6) Quy định về hợp đồng, giải quyết tranh chấp phát sinh trong kinh doanh, phá sản doanh nghiệp; (7) Quy định về kiểm tra chuyên ngành; (8) Quy định về bổ trợ tư pháp và tiếp cận pháp luật của doanh nghiệp; (9) Quy định pháp luật đảm bảo đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (10) Quy định về phân công, phân cấp, phân quyền, ủy quyền trong quản lý nhà nước về kinh tế. 2. Cắt giảm chi phí, đơn giản hóa quy định đầu tư, kinh doanh, đẩy mạnh thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp Tiếp tục thực hiện việc rà soát, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý của bộ, cơ quan để triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025... Việc vận hành Cổng dịch vụ công quốc gia tiếp tục có nhiều kết quả tích cực. Các bộ, ngành, địa phương đã tăng cường cấu trúc lại quy trình TTHC để tích hợp vào Cổng dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh việc kết nối, thanh toán trực tuyến để tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tính đến ngày 19/12/2020, đã có 2.666 TTHC cung cấp trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia (1.382 thủ tục của người dân, 1.441 thủ tục của doanh nghiệp), các đơn vị có đang cung cấp nhiều TTHC là Bộ Tài chính (230 thủ tục), Bộ Công Thương (131 thủ tục), Bộ Giao thông vận tải (114 thủ tục), tỉnh Nam Định (750 thủ tục), tỉnh Tây Ninh (683 thủ tục), tỉnh Thái Bình (553 thủ tục),...; trên 26.8 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái và có 692.570 hồ sơ trực tuyến thực hiện qua Cổng dịch vụ công quốc gia. 3. Công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, với một số nội dung quy định mới đáng chú ý là: Số lượng Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 40%; đổi tên hai Uỷ ban của Quốc hội ,... Triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, năm 2020, Bộ Nội vụ đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 08 nghị định để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. Một số đơn vị điển hình về sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy trong năm 2020: Bộ Nội vụ đã phối hợp với các bộ, cơ quan tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định về kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Cùng với đó, Bộ cũng đã rà soát, ban hành các quy định kiện toàn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, như: Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Vụ Tổ chức cán bộ và Vụ Cải cách hành chính. Trong năm 2020, ngành bảo hiểm xã hội đã tích cực rà soát, sắp xếp, tổ chức lại tổ chức bộ máy của Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối trung gian và nâng cao hiệu quả hoạt động. Kết quả đạt được sau rà soát, sắp xếp: Ở Trung ương, sau sắp xếp đã giảm 03 đơn vị cấp ban, giảm 13 đơn vị cấp phòng và 14 chức danh lãnh đạo cấp phòng. Tại địa phương, sau sắp xếp, giảm 65 phòng trực thuộc BHXH cấp tỉnh; giảm 58 BHXH thị xã, thành phố do chuyển giao nhiệm vụ, nhân sự, tài chính, tài sản về BHXH tỉnh thực hiện, quản lý; giảm 06 BHXH cấp huyện do sắp xếp địa giới hành chính; giảm 350 chức danh lãnh đạo cấp phòng và tương đương tại BHXH các cấp. Năm 2020, Bộ Tài chính tiếp tục là điểm sáng, đi đầu trong công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Tính trong năm 2020, Bộ đã ban hành 06 quyết định để kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các vụ, cục, tổng cục và tương đương; đồng thời, ban hành hàng chục quyết định để sắp xếp, tổ chức lại và giải thể các cơ quan thuế, kho bạc các cấp. Trong năm 2020, Tổng cục Thuế đã cắt giảm 85 chi cục thuế tại các cục thuế cấp tỉnh; giảm khoảng 185 đội thuế thuộc chi cục thuế cấp huyện; Kho bạc Nhà nước đã rà soát, kiện toàn và cắt giảm 06 kho bạc nhà nước cấp huyện. Trên cơ sở Quyết định số 520/QĐ-BTC ngày 13/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, từ cuối năm 2018 đến hết tháng 2/2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký ban hành 111 Quyết định thành lập chi cục thuế khu vực trực thuộc 63 cục thuế tỉnh, thành phố trong cả nước. Qua đó, đã tiến hành sắp xếp hợp nhất 565 chi cục thuế để thành lập 269 chi cục thuế khu vực, giảm 296 chi cục thuế. Đồng nghĩa, từ con số 711 chi cục thuế, sau khi hợp nhất toàn ngành chỉ còn lại 415 chi cục thuế, tăng 5 đơn vị so với kế hoạch được giao (kế hoạch giảm còn 420 chi cục thuế) và vượt trước thời gian 10 tháng theo Quyết định số 41/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 520 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Việc cắt giảm chi cục thuế đã giúp hệ thống thuế tinh gọn bộ máy, giảm bớt các tầng nấc trung gian, các bộ phận quản lý nội ngành để tập trung nguồn lực cho bộ phận quản lý thuế trực tiếp, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao. 4. Ban hành Nghị quyết thành lập thành phố Thủ Đức và thành phố Phú Quốc Tại Nghị quyết số 1111/NQ-UBTVQH14 ngày 09/12/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện để thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, thành phố Thủ Đức được thành lập trên cơ sở sáp nhập 03 đơn vị hành chính cấp huyện là Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức, kỳ vọng sẽ tạo tiền đề quan trọng để hình thành khu đô thị sáng tạo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh và phát triển Vùng kinh tế phía Nam. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, Thành phố Hồ Chí Minh có 22 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 16 quận, 5 huyện và 1 thành phố; 312 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 58 xã, 249 phường và 5 thị trấn. Tại Nghị quyết số 1109/NQ-UBTVQH14, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị thành lập thành phố Phú Quốc và các phường thuộc thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Thành phố Phú Quốc là thành phố đảo đầu tiên của Việt Nam, sẽ phát huy tốt hơn tiềm năng và lợi thế sẵn có về du lịch - thương mại - công nghệ cao để trở thành một trung tâm du lịch, thương mại lớn của cả nước, khu vực và quốc tế . Sau khi thành lập, thành phố Phú Quốc có 9 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 2 phường: An Thới, Dương Đông và 7 xã: Bãi Thơm, Cửa Cạn, Cửa Dương, Dương Tơ, Gành Dầu, Hàm Ninh, Thổ Châu. Tỉnh Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 12 huyện và 3 thành phố; 144 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 116 xã, 18 phường, 10 thị trấn. 5. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương chuyển giao một số nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện sang cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm Nhiều địa phương đã triển khai thí điểm việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích ở các mức độ khác nhau, cụ thể là: 36 địa phương đã thí điểm đặt Bộ phận Một cửa tại trụ sở của Bưu điện và bố trí nhân viên thay thế công chức để tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính. Có 03 tỉnh/thành phố đã triển khai thí điểm đặt Bộ phận Một cửa tại Bưu điện, gồm có: 13 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh; 46 Bộ phận Một cửa cấp huyện và 64 Bộ phận Một cửa cấp xã. Có 32 tỉnh/ thành phố triển khai bố trí nhân viên bưu điện thay cho công chức tại Bộ phận Một cửa để tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ. 47 tỉnh/thành phố đã phối hợp thực hiện việc luân chuyển hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính giữa Bộ phận Một cửa các cấp với các cơ quan hành chính thông qua dịch vụ bưu điện. Cùng với đó, Cổng dịch vụ công của 12 bộ và 63 tỉnh, thành phố đã thực hiện kết nối kỹ thuật với Bưu điện các tỉnh, thành phố để triển khai việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết hồ sơ đối với các thủ tục hành chính cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4. Trong năm 2020, trong cả nước đã có 19.954.467 hồ sơ được thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích, trong đó, dịch vụ tiếp nhận hồ sơ là 3.990.983 lượt, dịch vụ trả kết quả là 15.963.574 lượt. 6. Các quy định về tuyển dụng công chức, viên chức và nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức tiếp tục được cải cách mạnh mẽ Triển khai Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đã tham mưu cho Chính phủ đã ban hành 07 nghị định để cụ thể hóa các quy định mới của Luật, góp phần hoàn thiện thể chế về quản lý công chức, viên chức. Cụ thể là: - Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức có nhiều đổi mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Theo đó, đã sửa đổi, bổ sung một số điều kiện về đăng ký dự tuyển công chức, đổi mới quy trình tuyển dụng công chức và các quy định mới về chế độ công chức tập sự,... Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, trong đó, có nhiều quy định sửa đổi, bổ sung đáng chú ý là: Đổi mới tiêu chí phân loại viên chức; bổ sung thêm 01 hạng chức danh nghề nghiệp; quy định rõ hơn về điều kiện tuổi được dự tuyển viên chức đối với một số lĩnh vực đặc thù; đổi mới quy trình tuyển dụng và thực hiện chế độ tập sự đối với viên chức,... - Các quy định về xác định vị trí việc làm của công chức và người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Chính phủ đã có những điều chỉnh mới liên quan vị trí việc làm của công chức (tại Nghị định số 62/2020/NĐ-CP) và người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập (tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP) so với các quy định trước đây, như các đổi mới về: Căn cứ xác định vị trí việc làm, phân loại vị trí việc làm, các trường hợp điều chỉnh vị trí việc làm, căn cứ xác định và điều chỉnh biên chế công chức,... - Cùng với đó, các quy định về đánh giá, xử lý kỷ luật cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn: Tại Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, Chính phủ đã điều chỉnh một số quy định về tiêu chí, trình tự và thời điểm đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức hàng năm. Tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, Chính phủ đã quy định chi tiết về nguyên tắc xử lý kỷ luật là phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, nghiêm minh, đúng pháp luật; quy định rõ các hình thức xem xét kỷ luật và các trường hợp chưa xem xét kỷ luật; đồng thời, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật. 7. Điều hành ngân sách nhà nước chủ động, hiệu quả, chặt chẽ, tiết kiệm, góp phần quan trọng thực hiện thành công “nhiệm vụ kép” vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bám sát tình hình thực tiễn, Bộ Tài chính đã chủ động xây dựng các phương án điều hành thu, chi và cân đối ngân sách nhà nước (NSNN) phù hợp với các kịch bản tăng trưởng kinh tế, vừa hỗ trợ doanh nghiệp, người dân ứng phó với dịch bệnh, củng cố nền tảng vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa giữ vững cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp ở địa phương, góp phần thực hiện tốt mục tiêu kép “vừa quyết liệt phòng, chống dịch hiệu quả, vừa tập trung phục hồi và phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và trật tự xã hội”. Để bảo đảm cân đối ngân sách, bên cạnh việc sử dụng nguồn vượt thu NSNN năm 2019, Bộ Tài chính đã yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tiến hành rà soát, cắt giảm kinh phí hội nghị, công tác phí trong nước và ra nước ngoài, tiết kiệm thêm chi thường xuyên chưa cần thiết, cấp bách… Nhờ vậy, năm 2020 Việt Nam là một trong số ít những nền kinh tế trên thế giới đạt được mức tăng trưởng dương; lạm phát được giữ vững dưới 4%; các chỉ tiêu về bội chi, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020 đều trong phạm vi Quốc hội quyết định (không quá 3,9% GDP, 65% GDP, 54% GDP, 50% GDP). 8. Tiếp tục hoàn thiện các quy định và đẩy mạnh việc xây dựng, nâng cấp các cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ cho việc xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, đô thị thông minh Các bộ, ngành, địa phương đã tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng các cơ sở dữ liệu nền tảng và nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 cho người dân, tổ chức. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, đây được coi là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg ngày 22/7/2020 về mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương, làm căn cứ quan trọng phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương trong thời gian tới. Bộ Thông tin và Truyền thông đã triển khai xây dựng, thử nghiệm và chính thức khởi động Cổng dữ liệu quốc gia từ ngày 31/8/2020. Đây là đầu mối truy cập thông tin, dữ liệu trên mạng Internet phục vụ việc công bố dữ liệu mở, cung cấp thông tin về chia sẻ dữ liệu của cơ quan nhà nước; cung cấp các tài liệu, dịch vụ, công cụ, ứng dụng xử lý, khai thác dữ liệu được công bố bởi các cơ quan nhà nước. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến; theo đó, đã quy định rõ về việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống cơ sở dữ liệu khác; các nội dung, trình tự về thực hiện đăng ký hộ tịch trực tuyến; đồng thời, xác định các hành vi không được làm trong khi khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử,… 9. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với tầm nhìn đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp. Chương trình đã đề ra mục tiêu cơ bản là nhằm triển khai mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu. Trong đó, các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 là: 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh, 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ,.... và đến năm 2030: Hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan nhà nước và hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT), kết nối, chia sẻ rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, giảm 30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ chức, doanh nghiệp, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp; 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; Việt Nam đặt phấn đấu gia nhập nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI) và thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI); tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử là trên 80%. 10. Khai trương Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm thông tin, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Ngày 19/8/2020, Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm Thông tin, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được khai trương và chính thức đi vào vận hành. Đây được coi là điểm nhấn quan trọng mang tính đổi mới, thay đổi phương thức chỉ đạo, điều hành từ dựa trên thông tin, số liệu trên văn bản giấy chuyển sang dựa trên dữ liệu số. Theo đó, Trung tâm Thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, được kết nối với các trung tâm điều hành, hệ thống thông tin báo cáo, các cơ sở dữ liệu quốc gia, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của bộ, ngành, địa phương, trở thành một trong những thành phần cốt lõi của hạ tầng số thông minh. Từ Trung tâm, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ có thể theo dõi, kiểm tra được các hoạt động theo từng lĩnh vực do các bộ, ngành, địa phương quản lý thông qua dữ liệu số, hình ảnh trực quan, trực tuyến, giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành được diễn ra nhanh chóng, liên tục và mang lại hiệu quả thiết thực./.

Toàn văn bài tham luận sáng ngày 28/01/2021 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng của đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội; Kính thưa toàn thể Đại hội! Tôi nhất trí cao với các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng: các văn kiện được chuẩn bị rất công phu, kỹ lưỡng, dân chủ, khoa học, kết tinh trí tuệ, tâm huyết, thể hiện được hào khí dân tộc hòa quyện “ý Đảng, lòng dân”, hào sảng niềm tin và ý chí, sức sáng tạo cũng như khát vọng mạnh mẽ phát triển đất nước hùng cường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Được tham luận tại Đại hội, thay mặt Bộ Nội vụ, tôi xin phát biểu nội dung sau đây: Kính thưa Đại hội! Cải cách hành chính nhà nước được Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng xác định là một trong 3 khâu đột phá để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020. Thực tiễn, trong 10 năm qua, nhất là 5 năm 2016-2020, Đảng, Nhà nước ta đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả khá toàn diện và nổi bật, tạo động lực mạnh mẽ cho kinh tế - xã hội phát triển bền vững, góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương và nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhìn lại những năm qua, với những con số, sản phẩm và hiệu lực, hiệu quả đem lại từ cải cách hành chính nhà nước, chúng ta có thêm động lực, sức sáng tạo và kinh nghiệm để “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính nhà nước góp phần đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước” trong chặng đường đi tới. Kết quả nổi bật nhất của cải cách hành chính những năm qua là những con số ấn tượng: tính đến ngày 30/12/2020, cả nước đã có 2.700 dịch vụ công trực tuyến được tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Từ 08 dịch vụ công thời điểm khai trương, chỉ trong vòng 01 năm, Cổng dịch vụ công Quốc gia đã cung cấp 2.700/6.790 TTHC cho người dân và doanh nghiệp. Đã có 84 bộ, ngành, cơ quan, địa phương tích hợp, đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết TTHC với Cổng dịch vụ công Quốc gia, trong đó có 19 bộ, cơ quan ngang bộ và 63/63 tỉnh, thành. Đến ngày 24/12/2020 đã có 100 triệu lượt truy cập vào Cổng dịch vụ công Quốc gia. Tổng chi phí tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến từ khi Cổng dịch vụ công Quốc gia được khai trương vào cuối năm 2019 đến cuối năm 2020 là 8000 tỷ đồng. Đây là một khoản tiền tiết kiệm rất lớn. Tuy nhiên lợi ích lớn hơn rất nhiều với ý nghĩa xã hội rất sâu sắc: tiết kiệm thời gian, công sức của cả xã hội, minh bạch hoá quy trình, thủ tục, đẩy mạnh thực hành dân chủ, tăng cường niềm tin của người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phòng chống tham nhũng. Chính phủ điện tử với các dịch vụ hành chính công trực tuyến như là một phần tiêu biểu, nổi bật nhất của những cố gắng cải cách hành chính đã được triển khai ở nhiều bộ, ngành và địa phương trong thời gian qua. Rõ ràng, với chủ trương, định hướng của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, sự ra đời của Cổng dịch vụ công Quốc gia quả thực là một bước đột phá trong cải cách TTHC. Qua đó, chúng ta nhận diện rất rõ đất nước ta thực sự bước vào thời kỳ mới của công cuộc cải cách hành chính – công vụ, khi công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ truyền thông hiện đại đang tạo ra nền tảng mới cho những cố gắng cải cách của chúng ta. Cùng với kết quả quan trọng cần được nhấn mạnh trên đây, nhìn lại 5 mục tiêu của chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra: (1) Giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước; (2) Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp; (3) Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; (4) Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền làm chủ của nhân dân; (5) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước, về cơ bản chúng ta đã đạt được mục tiêu quan trọng nêu trên và cũng dễ dàng nhận thấy rằng thành tựu đạt được là rất đáng kể: Thứ nhất, về hoàn thiện thể chế: Chỉ tính giai đoạn 5 năm qua (từ 2016-2020) các cơ quan Trung ương đã ban hành tổng cộng 71 Luật, 745 Nghị định, 232 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 2.242 Thông tư và nhiều văn bản khác. Qua đó, thể chế của nền hành chính được cải cách và dần được hoàn thiện phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ bản đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Thứ hai, về cải cách thủ tục hành chính: Tính từ đầu nhiệm kỳ đến giữa năm 2020, Chính phủ đã cắt giảm, đơn giản hoá 3.893/6.191 điều kiện kinh doanh, 6.776/9.926 danh mục hàng hoá phải kiểm tra chuyên ngành và 30/120 TTHC liên quan đến kiểm tra chuyên ngành. Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được từ việc cắt giảm, đơn giản hoá khoảng 18 triệu ngày công/năm, tương đương hơn 6.300 tỷ đồng/năm. Qua đó, môi trường kinh doanh được cải thiện, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời, môi trường cho các hoạt động dân sinh, văn hóa – xã hội .v.v. cũng đã được cải thiện rất lớn. Thứ ba, bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương bước đầu đã phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, cơ bản khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; cơ cấu bên trong đã có sự phân định rõ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp. Việc triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW,19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (Khoá XII) bước đầu đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo được nhận thức mới, tư duy mới và hành động quyết liệt trong cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương; đến nay đã giảm được nhiều đầu mối bên trong các bộ, ngành trung ương, các địa phương, đặc biệt giảm trên 25% đơn vị sự nghiệp nhất là ở các địa phương (giảm 3.980 đơn vị sự nghiệp), giảm trên 27.500 biên chế công chức (tương ứng giảm 10,01% so với 2015), giảm gần 243.000 biên chế viên chức (tương ứng giảm 11,98% so với năm 2015, vượt mục tiêu Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị đến năm 2021 giảm 10%), giảm số lượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, tổ dân phố gần 148.000 người; thực hiện tích cực việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã (đã giảm 08/713 đơn vị hành chính cấp huyện, giảm 557/11.160 đơn vị hành chính cấp xã; giảm 38.369/98.455 thôn, bản, tổ dân phố, tương ứng giảm 39%). Qua sắp xếp, bước đầu đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thứ tư, cải cách tài chính công đã đạt được kết quả tích cực: Công tác quản lý tài chính, ngân sách có nhiều đổi mới nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia cho phát triển kinh tế - xã hội; đã chú trọng cơ cấu lại ngân sách nhà nước, đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách theo hướng phân cấp, đẩy mạnh khoán, đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ và tăng cường tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công; theo đó làm tăng tính hiệu quả của chi tiêu công, hạn chế tham nhũng, lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính, tăng tính công khai, minh bạch trong thực hiện ngân sách nhà nước. Có thể nói: cải cách hành chính nhà nước trong những năm qua đã cơ bản đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín đất nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, những cải cách hành chính vừa qua cũng có mặt chưa mang tính đột phá, nhất là khuôn khổ thể chế cho nền hành chính công vụ chuyên nghiệp, hiệu năng vẫn còn hạn chế; sự chồng chéo, thiếu sự liên thông còn khá phổ biến; việc phân cấp, phân quyền Trung ương – địa phương; việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả chưa đồng bộ; chất lượng, cơ cấu đội ngũ công chức còn có mặt bất cập. Kính thưa Đại hội! Các văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã định hướng rất sâu sắc: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ người dân, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối với đất nước trong thời gian tới. Tôi xin đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây: Một là, tiếp tục quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính; gắn cải cách hành chính với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; ngay sau Đại hội khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030. Hiện nay, Bộ Nội vụ đã hoàn thiện dự thảo Nghị quyết trình Chính phủ sớm ban hành, tổ chức thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả nhằm xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, nâng cao trách nhiệm giải trình, từng bước hiện đại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; lấy người dân làm trung tâm, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế, trong đó trọng tâm là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế của nền hành chính Nhà nước. Trong điều kiện kinh tế mở, có tính toàn cầu, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng tạo lập đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế, thể chế hành chính phù hợp với thông lệ chung của thế giới, tạo bước đột phá nhằm khơi thông mọi điểm nghẽn phát triển và khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (nhất là các nguồn lực xã hội trong nước và ngoài nước). Đặc biệt, tập trung khơi dậy và phát huy tối đa những giá trị nền tảng của chế độ xã hội và sức mạnh nội sinh con người Việt Nam để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách pháp luật về tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII và văn kiện Đại hội XIII của Đảng; tập trung xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, công khai, minh bạch; đổi mới mạnh mẽ và hoàn thiện thể chế quyền lực nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở với cơ chế phân cấp, phân công, phân quyền phù hợp và hiệu quả, theo các nguyên tắc: phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa Trung ương và địa phương, vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương, vừa nâng cao tính tự chủ, tự quản, trách nhiệm giải trình, tính năng động, sáng tạo của địa phương, cơ sở nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Ba là, tập trung đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức, trong đó cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đây là yêu cầu có tính cốt lõi, quyết định sự thành công cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Chú trọng xây dựng cơ chế khuyến khích, khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, tạo động lực để mọi cán bộ, công chức, viên chức tận tụy phục vụ nhân dân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm nêu gương người đứng đầu và của đội ngũ công chức, viên chức; đây là yêu cầu quan trọng nhất để có thể áp dụng được các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cho những cố gắng thực hiện cải cách hành chính của chúng ta; kinh nghiệm của các nước, đặc biệt cải cách theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan cho thấy một đội ngũ hành chính – công vụ tinh hoa là điều kiện không thể thiếu để đất nước có thể phát triển vượt bậc và trở nên cường thịnh. Trong giai đoạn tới chúng ta cần thúc đẩy những cải cách cần thiết để có được một đội ngũ hành chính – công vụ, trước hết là đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, tâm huyết và tài năng hơn. Tất cả bắt đầu từ cơ chế, nhất là cơ chế lựa chọn, thu hút, trọng dụng nhân tài; cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; cơ chế, chính sách tuyển chọn đầu vào và tổ chức các kỳ thi cấp quốc gia hiệu quả như Nhật Bản để tuyển chọn công chức là một kinh nghiệm hay cần tham khảo.v.v. Ngoài ra, bảo đảm cơ hội thăng tiến của công chức, phải theo thành tích, sản phẩm công việc thực tế và phẩm chất đạo đức, uy tín của người công chức. Bốn là, triển khai mạnh mẽ việc xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, trong đó Cổng dịch vụ công Quốc gia phải là điểm khởi đầu quan trọng nhất của chương trình cải cách này. Thực tế cho thấy, chỉ trong vòng 01 năm đã có 1/3 dịch vụ hành chính công được số hoá và tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Với tốc độ này và quyết tâm cao, chỉ trong vòng 2 năm nữa toàn bộ các dịch vụ hành chính công của đất nước sẽ được tích hợp lên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Lúc đó, các cơ quan hành chính – công vụ sẽ có một nền tảng mới cũng như một phương thức mới để làm việc. Đồng thời, phương thức giao tiếp mới giữa các cơ quan hành chính – công vụ với công dân và doanh nghiệp cũng được thực hiện. Đây là phương thức giao tiếp không phải trực tiếp mà là trực tuyến, người dân và doanh nghiệp có thể đăng ký được cung cấp dịch vụ công ở bất kỳ nơi nào trên đất nước này và bất kỳ thời gian nào. Khi mọi dịch vụ công đã được tích hợp lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia thì các giao dịch không chỉ dễ dàng, tiết kiệm, mà một hệ thống dữ liệu khách quan, tin cậy cũng được hình thành và lưu giữ. Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng để nhận biết các vấn đề của đất nước và ban hành nhanh chóng các quyết định cần thiết. Đồng thời, đây cũng là nền tảng không thể thiếu để ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhằm giải quyết hàng loạt vấn đề của nền quản trị quốc gia. Hoạt động kiểm toán cũng như hoạt động thống kê cũng sẽ trở nên hết sức dễ dàng, tin cậy nhờ hệ thống dữ liệu nói trên. Tệ nạn vẽ ra các số liệu để báo cáo thành tích sẽ hoàn toàn không còn đất sống. Ngoài ra, nhờ kết nối với Cổng dịch vụ công Quốc gia, sự liên thông và chia sẻ thông tin theo thời gian thực giữa các bộ, ngành và các địa phương cũng sẽ là một lợi thế mà ít có cách thức cải cách hành chính nào khác có thể mang lại được. Vấn đề đặt ra là tất cả các cơ quan hành chính - công vụ của đất nước phải kết nối nhanh chóng và tin cậy với Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Người dân chỉ cần biết một cổng. Các công chức, viên chức phải biết cung cấp dịch vụ cần thiết cho người dân qua Cổng dịch vụ công Quốc gia. Kết nối và cung cấp dịch vụ cho người dân qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia là phần cấu thành quan trọng đầu tiên của chương trình cải cách hành chính 4.0. Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính: Tập trung áp dụng công nghệ số để cải tiến mọi quy trình, thủ tục của các cơ quan hành chính – công vụ. Cải cách này sẽ giúp công việc được tiến hành bài bản, chuẩn mực, sự liên thông, sự minh bạch luôn được bảo đảm. Số hoá sẽ không chỉ giúp chúng ta cải tiến quy trình, thủ tục mà còn giúp chúng ta thu thập và lưu giữ các dữ liệu. Các dữ liệu sẽ trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, giúp các cơ quan công quyền ban hành quyết định chính xác hơn, phản ứng với các vấn đề của quản trị công nhanh chóng, kịp thời hơn. Kính thưa Đại hội! Tuy còn nhiều khó khăn, thách thức phía trước, nhưng đất nước ta đang đứng trước những cơ hội lớn chưa từng có, một đất nước thanh bình, an ninh chính trị ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng lên; ý Đảng, lòng dân hoà quyện, đó là sức mạnh của truyền thống lịch sử, cách mạng, văn hoá và tinh thần đoàn kết, nhất trí của toàn Đảng, toàn dân ta. Thúc đẩy cải cách hành chính, góp phần xây dựng nền hành chính đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, quản trị phát triển, phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hùng cường, vì cuộc sống phồn vinh và hạnh phúc của Nhân dân là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân và là sứ mệnh của mỗi đại biểu chúng ta. Kính chúc các đồng chí đại biểu dự Đại hội mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công. Xin trân trọng cám ơn!

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính nhà nước

Sáng ngày 28/1, Đại hội lần thứ XIII của Đảng làm việc tại Hội trường, thảo luận các văn kiện Đại hội XIII. Đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hà Nội thay mặt Đoàn Chủ tịch điều hành phiên thảo luận.

Hội nghị triển khai Đề án Chỉ số CCHC

Ngày 14/01/2021, Bộ Nội vụ đã tổ chức Hội nghị triển khai Đề án Chỉ số CCHC và Kế hoạch xác định chỉ số CCHC năm 2020 (Quyết định số 1149/QĐ-BNV ngày 30/12/2020 của Bộ nội vụ phê duyệt Đề án "Xác định Chỉ số CCHC cấc Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương" Bộ Tiêu chí cấp Bộ gồm 7 Lĩnh vực đánh giá với 40 Tiêu chí và 99 Tiêu chí thành phần. Thang điểm đánh giá: 100 điểm, trong đó: Diều tra xã hội học 36,5/100 Chỉ số CCHC xác định bằng tỷ lệ (%) giữa tổng điểm đạt được và tổng điểm tối đa (100); các chỉ số thành phần theo lĩnh vực,tiêu chí xác định bằng tỷ lệ (%) giữa điểm đạt được và điểm tối đa từng lĩnh vực, tiêu chí. Xếp hạng: 17 bộ, ngành từ cao tới thấp (riêng 2 cơ quan đặc thù (Thanh tra Chính phủ và UNNDT) không xếp hạng chung với 17 bộ ngành Theo Kế hoạch (Quyết định số 17/QĐ-BNV ngày 7/01/2021 của Bộ Nội vụ) sẽ công bố kết quả Chỉ số CCHC các bộ, ngành vào quý II/2021.

Ngành nông nghiệp cải cách thủ tục hành chính

Thời gian qua, ngành nông nghiệp tỉnh Hải Dương đã tham mưu bãi bỏ nhiều thủ tục hành chính không hợp lý nhằm tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân.

HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 10 NĂM CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

Ngày 21/12/2020, Tại Vườn Quốc gia Cúc Phương Ninh Bình, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm công tác CCHC giai đoạn 2011-2020, định hướng giai đoạn 2021-2030

HỘI THẢO KHOA HỌC TỔNG KẾT 10 NĂM CCHC NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011-2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2021-2030

Ngày 27/11/2020, tại Bộ Nội vụ Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ đã tổ chức Hội thảo khao học về CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 và định hướng giai đoạn 2021-2030, Hội thảo do Lãnh đạo Bộ Nội vụ chủ trì và thành viên là các nhà khoa học, chuyên gia, đại diện các Bộ ngành, địa phương từ Thừa Thiên Huế trở ra và các tập đoàn, doanh nghiệp tham dự. Hội thảo đã được nghe các chuyên gia, nhà khoa học phân tích đánh giá từng nội dung lĩnh vực CCHC cũng như đề xuất các trọng tâm định hướng CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030 tiếp theo, đồng thời các thanh viên cũng đão trao đổi thảo luận nhiều nội dung, lĩnh vực CCHC như quản trị CCHC...

Tăng cường thương mại nông sản Việt Nam – Trung Quốc

Ngày 8/12, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Xuân Cường đã họp trực tuyến với Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Trung Quốc Nghê Nhạc Phong.